Tin tức
 
 Đổi mới sáng tạo thông qua KH&CN: Việt Nam cần làm gì?

Đổi mới sáng tạo thông qua khoa học và công nghệ (KH&CN) được xem là chìa khóa giúp Việt Nam có thể vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” và dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào công nghệ thấp và nguồn tài nguyên. Nhưng để làm được điều này, chúng ta cần phải làm gì? Tác giả đưa ra một số gợi ý qua việc phân tích 4 yếu tố cốt lõi của phát triển KH&CN, đó là: chính sách, hạ tầng cơ sở, hệ thống quản trị công và nguồn nhân lực.

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam phần lớn dựa vào công nghệ thấp (như công nghệ trong ngành may hay những ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp như phụ tùng xe) và tài nguyên (như xuất khẩu dầu thô). Do đó, KH&CN và đổi mới sáng tạo được xem là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế - xã hội, giúp đất nước vượt qua nguy cơ tụt hậu trên bình diện chung toàn thế giới. Bên cạnh đó, KH&CN và đổi mới sáng tạo cũng giúp giảm nguy cơ rơi vào "bẫy thu nhập trung bình". Đây là kết luận của một nghiên cứu do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế và Ngân hàng Thế giới thực hiện được hoàn thành cuối năm 2014 [1]. Với tình hình phát triển kinh tế không đều và thiếu sự ổn định ở trong và ngoài nước như hiện nay, cộng với những dự báo cho tương lai, những nguy cơ nêu trên có khả năng sẽ trở thành hiện thực khi năng lực nghiên cứu KH&CN của Việt Nam vẫn còn yếu kém. Theo phân tích gần đây của GS.TS Nguyễn Văn Tuấn khi so sánh những bài báo khoa học xuất bản trên các tạp chí quốc tế trong những năm vừa qua của các nước Đông Nam Á, Việt Nam nằm trong nhóm có số lượng bài báo quốc tế thấp nhất trong khu vực và phần lớn các hoạt động KH&CN trong nước hiện nay đang tập trung vào phát triển nghiên cứu cơ bản, không có tiềm năng tác động nhiều vào nền kinh tế [2]. Với Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 đã được ban hành [3], một vấn đề đặt ra là nên triển khai chiến lược này như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế như mong đợi.

Để phát triển KH&CN thành công thì phải đảm bảo 4 yếu tố cần thiết sau:

1) Chính sách của Nhà nước phải đóng vai trò quan trọng. Trong đó, việc định hướng chiến lược cùng lộ trình phát triển rõ ràng kèm những mục tiêu mang tính khả thi và phù hợp với thực tế cần được cân nhắc kỹ lưỡng bên cạnh hiện trạng và nhu cầu của quốc gia.

2) Hạ tầng cơ sở phục vụ cho nghiên cứu KH&CN phải đáp ứng được nhu cầu phát triển.

3) Hệ thống quản trị công cho phát triển KH&CN phải đóng vai trò hỗ trợ, tránh những cơ chế quản lý rườm rà.

4) Nguồn nhân lực có khả năng phát huy sáng tạo trong KH&CN phải đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển.

Chính sách của Nhà nước cho phát triển KH&CN

Trong các chiến lược phát triển KH&CN (giai đoạn đến năm 2010 [4] và giai đoạn 2011-2020 [3]) đều xác định rõ tầm quan trọng của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đưa ra định hướng phát triển một số công nghệ trọng điểm như: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ chế tạo máy, tự động hóa, năng lượng, công nghệ vũ trụ.

Để có một chiến lược đầu tư và phát triển KH&CN hiệu quả, ngoài việc đưa ra chiến lược đầu tư "cái gì", chính sách cần nêu lên được câu trả lời tại sao phải đầu tư vào khía cạnh đó và lộ trình phát triển nó như thế nào? Để có thể làm được điều này, việc đề xuất những bài toán/vấn đề thực tế xuất phát từ việc phân tích nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, quốc tế cũng như tính khả thi trong việc giải quyết bài toán/vấn đề này là rất quan trọng. Qua những bài toán thực tế này, nhà lãnh đạo có thể đánh giá được tầm quan trọng của những hướng phát triển khác nhau, hiểu rõ nhu cầu đầu tư cho mục tiêu dài hạn có thể có nhiều thách thức so với những đề xuất có lợi ích ngắn hạn, tính khả thi cao nhưng không đáp ứng được nhu cầu phát triển cần thiết. Những bài toán thực tế này còn giúp đưa ra lộ trình phát triển rõ ràng, những tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả đầu tư định kỳ; qua đó có thể điều chỉnh kế hoạch phát triển kịp thời. Thêm vào đó, những bài toán thực tế thường đòi hỏi sự phối hợp đa ngành để cùng phát triển cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng khả năng giải quyết những bài toán phức tạp. Chúng ta đầu tư phát triển Toán học đã nhiều năm và gần đây là Vật lý. Hai ngành khoa học này mang tính cơ bản và bao quát nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Nếu không có những bài toán thực tế đòi hỏi kiến thức chuyên sâu thì việc đầu tư này sẽ không đem lại hiệu quả và khó có thể đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Gần đây, Bộ KH&CN triển khai Chương trình Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, KH&CN (FIRST), thành lập Quỹ InnoFund thúc đẩy thành lập công ty khởi nghiệp từ thành quả nghiên cứu KH&CN, tổ chức cuộc gặp mặt giữa Thủ tướng Chính phủ với các nhà khoa học trẻ…, cho thấy Chính phủ đã bắt đầu có sự quan tâm và kỳ vọng nhiều hơn vào KH&CN nhằm mở ra hướng đi cho nền kinh tế hiện tại. Đây là cơ hội để KH&CN Việt Nam có những bước đi đột phá trong việc đóng góp cho phát triển kinh tế tri thức. Tuy nhiên, để đạt được kết quả vượt trội so với tốc độ phát triển trong hai thập niên qua thì cần phải thay đổi cách nhìn nhận, giải quyết và kể cả phương án triển khai vấn đề.

Chính sách của Nhà nước cần “tạo áp lực” với cộng đồng KH&CN để giải quyết những bài toán mang tính thực tế, góp phần phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Hơn nữa, chính sách của Nhà nước cần thúc đẩy sự hợp tác đa ngành cùng lộ trình phát triển rõ ràng. Trong đó, những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn có thể được dùng làm thước đo để đánh giá hiệu quả đầu tư khi nhấn mạnh vào tầm quan trọng của chất lượng thay vì số lượng.

Hạ tầng cơ sở phục vụ cho nghiên cứu

Việt Nam phát triển năng lực nghiên cứu KH&CN dựa theo mô hình của Liên Xô cũ bằng cách tập trung đầu tư vào các cơ quan nghiên cứu và triển khai (R&D) công lập. Bắt đầu là việc thành lập Viện Khoa học Việt Nam năm 1975 (sau này là Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam). Theo thống kê của Bộ KH&CN, tính đến nay, cả nước có khoảng gần 700 đơn vị R&D (cấp trung ương và cấp bộ) và gần 1.000 đơn vị cấp địa phương và doanh nghiệp [5]. Trong khi đó, cả nước Mỹ chỉ có 17 phòng thí nghiệm cấp quốc gia (tương đương với đơn vị R&D cấp bộ) [6]. Cũng theo thống kê của Bộ KH&CN, năm 2013, tổng chi quốc gia cho hoạt động R&D của Việt Nam là 13.390,6 tỷ đồng (tương đương 6 tỷ USD). Trong khi đó, nghiên cứu KH&CN trong năm 2013 chỉ đạt 2.427 bài báo quốc tế và số lượng bằng sáng chế không đáng kể. Điều này chứng minh hiệu quả đầu tư cho phát triển năng lực nghiên cứu KH&CN còn thấp [7]. Để tạo cơ hội đột phá cho phát triển KH&CN cũng như đổi mới sáng tạo, Việt Nam không nên đầu tư xây dựng thêm các viện hoặc trung tâm nghiên cứu mới. Thay vào đó, hãy tái cấu trúc mạnh mẽ các cơ sở R&D, trong đó hướng tới một số cơ sở cấp quốc gia đạt tầm vóc quốc tế. Nhiệm vụ của những cơ sở R&D cấp quốc gia này nên tập trung vào giải quyết các bài toán lớn, đa ngành, phức tạp, có tính ứng dụng cao.

Một nhận xét chung cho hoạt R&D ở Việt Nam là còn thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các đơn vị nghiên cứu. Điều này dẫn đến sự lãng phí khi phải đầu tư trang thiết bị nghiên cứu đắt tiền mà chưa thể tối đa hoá năng suất sử dụng. Cũng trong chiến lược tái cơ cấu, một số đơn vị R&D có trang thiết bị hiện đại có thể được chuyển đổi thành những đơn vị "dịch vụ" nghiên cứu đa dụng (multi-user research facilities) nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng của tất cả các đơn vị R&D cũng như nhà khoa học từ các trường đại học trong cả nước. Thực tế cho thấy, các đơn vị R&D của các trường đại học đóng vai trò thiết yếu trong việc đào tạo sau đại học nhưng năng lực của các đơn vị R&D này còn khá khiêm tốn. Đặc biệt, theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguồn kinh phí cấp cho các hoạt động R&D của các trường đại học chỉ chiếm khoảng 3,9% nguồn tài chính của các trường [8]. Dựa trên mô hình của Liên Xô cũ, mục tiêu chính của các trường đại học ở Việt Nam là đào tạo. Do đó, trên 95% hạ tầng cơ sở của các trường đại học là phục vụ cho việc giảng dạy chứ chưa quan tâm nhiều đến công tác nghiên cứu. Trong khi đó, các trường đại học có tiếng tăm ở nước ngoài thì trên 90% hạ tầng cơ sở và đội ngũ nhân viên đông đảo nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu. Điều này lý giải cho việc nghiên cứu và đào tạo KH&CN ở Việt Nam nặng về lý thuyết, chưa đáp ứng được nhu cầu khắt khe của thị trường lao động.

Các trường đại học ở Việt Nam cần phải cải cách mạnh mẽ việc sử dụng hạ tầng cơ sở để phục vụ cho hoạt động R&D. Điều này hoàn toàn khả thi nhờ việc tối ưu hóa không gian giảng dạy (hội trường, phòng học...) bằng phương án quản lý tập trung. Đây là chiến lược quản lý và sử dụng không gian giảng dạy mà các đại học nước ngoài đang sử dụng. Được như thế thì một số lớn các phòng và lớp học của mỗi khoa có thể chuyển đổi thành phòng thí nghiệm. Phương án tái cơ cấu cơ sở hạ tầng R&D cho các đơn vị R&D cũng như đại học không đòi hỏi nguồn kinh phí đầu tư cao mà đòi hỏi sự quyết đoán và quyết tâm thực hiện mục tiêu của các nhà lãnh đạo.

Hệ thống quản trị công cho hoạt động KH&CN

Với kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm giữ vai trò là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, đồng thời là Viện trưởng Viện KH&CN tính toán TP Hồ Chí Minh, tôi có thể khẳng định hệ thống quản trị công cho hoạt động KH&CN đang kìm hãm các nhà khoa học và những đột phá sáng tạo trong KH&CN. Tuy Viện KH&CN tính toán được ưu đãi với một số cơ chế hoạt động đặc thù nhưng việc phát triển KH&CN vẫn còn gặp nhiều hạn chế bởi quy chế quản lý đề tài khoa học từ những đơn vị hành chính liên quan khác. Ví dụ: để được giải ngân, đề tài nghiên cứu cần thuyết minh kinh phí bằng cách liệt kê tất cả các chi tiết công việc cho toàn bộ đề tài nhưng việc này không phù hợp với quy trình nghiên cứu. Quy trình đánh giá nghiệm thu đề tài cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt là những đề tài mang tính ứng dụng. Trong khi đó, đối với những đề tài nghiên cứu cơ bản hoặc lý thuyết thì việc sử dụng các bài báo quốc tế để làm cơ sở nghiệm thu giúp Quỹ NAFOSTED đơn giản hóa được quy trình nghiệm thu. Nhờ đó mà các hoạt động nghiên cứu cơ bản được phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian qua.

Điều này cho thấy, cần phải tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ/ngành liên quan trong quy trình quản lý KH&CN, từ xét duyệt, cấp kinh phí, đến nghiệm thu đề tài nhằm đơn giản hoá và minh bạch hóa các thủ tục hành chính. Qua đó, tạo điều kiện cho các nhà khoa học được phát huy tối đa năng lực của mình. Với những đổi mới thể hiện trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31.10.2012 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI của Đảng về KH&CN và Luật KH&CN 2013… hy vọng Việt Nam sẽ có một cơ chế quản lý phát triển KH&CN thông thoáng và phù hợp hơn.

Nguồn nhân lực có khả năng phát huy sáng tạo

Theo thống kê của Bộ KH&CN, tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 128.998 cán bộ nghiên cứu làm công tác R&D, tập trung chủ yếu ở các trường đại học, với 63.435 người, chiếm khoảng 50% tổng số nhân lực [7]. Như đã nêu trên, hạ tầng cơ sở cho việc nghiên cứu KH&CN tại các trường đại học của Việt Nam còn yếu kém. Điều này lý giải một phần cho mâu thuẫn giữa lực lượng R&D nhiều nhưng năng suất nghiên cứu còn khá thấp. Nguyên nhân chính là do các trường chỉ tập trung vào công tác đào tạo. Đào tạo sau đại học (đặc biệt là trình độ tiến sỹ) có tỷ lệ 90% là nghiên cứu và chỉ 10% hoặc ít hơn là lý thuyết căn bản từ các lớp học. Trong khi đó, nhiều GS, PGS không tham gia hoạt động nghiên cứu và viết báo nên khó có thể hướng dẫn nghiên cứu sinh phát triển tư duy nghiên cứu, khả năng phản biện cũng như viết báo quốc tế. Đây là bài toán "con gà và quả trứng" đầy hóc búa. Tuy vậy, Việt Nam vẫn có thể nâng cao năng lực nghiên cứu trong công tác đào tạo sau đại học qua hai phương án:

1) Nhân rộng cơ chế cho phép các đơn vị R&D có cơ sở hạ tầng nghiên cứu tốt được đào tạo sau đại học. Điều này sẽ tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho nghiên cứu sinh phát huy tư duy nghiên cứu.

2) Hợp tác với các GS Việt kiều thông qua mạng lưới Cộng đồng GS gốc Việt quốc tế (International Vietnamese Academics Network - iVANet) [9, 10] để hướng dẫn nghiên cứu sinh, học viên cao học. Phương án này tương tự chương trình Royal Golden Jubilee PhD program [11] đã rất thành công trong chiến lược nâng cao năng lực nghiên cứu cho Thái Lan, đồng thời giảm nguy cơ chảy máu chất xám. Phương án này mang tính khả thi cao nhưng cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa được xem xét trong chiến lược quốc gia về thu hút trí thức Việt kiều.

Kết luận

Việt Nam đang đứng trước thử thách để vượt qua nguy cơ rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" mà đổi mới sáng tạo qua KH&CN có thể là chìa khóa giúp đất nước dần thoát khỏi việc lệ thuộc vào nền công nghệ thấp và tài nguyên. Để làm được điều này, các nhà lãnh đạo cần quyết đoán trong việc:

- Thay đổi chính sách phát triển KH&CN, phối hợp liên ngành, tập trung vào giải quyết các bài toán phức tạp nhưng mang tính thực tế nhằm giải quyết nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.

- Tái cơ cấu hoạt động của các đơn vị R&D và hạ tầng cơ sở tại các trường đại học.

- Xây dựng hệ thống quản trị công cho phát triển KH&CN minh bạch, hiệu quả cao.

- Mở rộng chức năng đào tạo cho các đơn vị R&D có hạ tầng cơ sở tốt, đồng thời hợp tác với các GS Việt kiều trong mục tiêu nâng cao chất lượng nhân lực nghiên cứu.

GS.TS Trương Nguyện Thành

Đại học Utah, Mỹ

----------------------

Tài liệu tham khảo

[1] Science, Technology and Innovation in Viet Nam, Organization for Economic Co-operation and Development and World Bank, Nov. 24th, 2014. http://www.oecd.org/countries/vietnam/science-technology-and-innovation-in-viet-nam-9789264213500-en.htm (24.9.2015).

[2] Năng suất khoa học Việt Nam (2009-2013), Tuan’s Blog. http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2013/11/nang-suat-khoa-hoc-viet-nam-2009-2013.html (24.9.2015).

[3] Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 11.4..2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020.

[4] Quyết định 272/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010.

[5] http://khcn.tvu.edu.vn/so-sanh-nang-luc-nghien-cuu-khoa-hoc-cua-11-nuoc-dong-a-dua-tren-cac-cong-bo-quoc-te-va-bai-hoc-rut-ra-cho-viet-nam.html.

[6]https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Department_of_Energy_national_laboratories.

[7] Lê Xuân Định và các tác giả (2014), “Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2014”, NXB Khoa học Kỹ thuật.

[8] http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nghien-cuu-va-phat-trien-trong-dai-hoc-Linh-vuc-con-bo-ngo/320205290/157/.

[9] http://ivanet.org/.

[10] https://www.facebook.com/groups/ivanet.org/.

[11] Thailand Royal Golden Jubilee PhD program, http://rgj.trf.or.th/eng/rgje11.asp.

 

 

Theo http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn/

 
 
  
  
* Mời bạn góp ý nội dung bài viết. Chân thành cám ơn!
Sẽ có nhiều chủ trương, chính sách mới thu hút tri thức kiều bào
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta
“Không nên ràng buộc nhà khoa học trẻ bằng quy định hành chính”
Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Đặng Việt Dũng thăm và chúc tết Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng
Đưa lưới điện thông minh phục vụ đời sống, sản xuất
Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin KHCN hiện đại
Tái cơ cấu ngành KH&CN: Tiếp cận thị trường và phù hợp thông lệ quốc tế
Đặt hàng đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia năm 2016
Khoa học và công nghệ có bước phát triển mạnh mẽ sau 30 năm đổi mới
  
Liên Kết
Lượt truy cập


TRANG CHỦ

THÔNG BÁO

TIN TỨC

LIÊN HỆ

CSDL CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ

 NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

     THIẾT BỊ NÔNG THÔN

     CÔNG NGHỆ NÔNG THÔN

     PHIM KHOA HỌC - KỸ THUẬT

 NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ

 CÔNG NGHỆ DOANH NGHIỆP

 TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHUYÊN ĐỀ

 CHUYÊN ĐỀ NÔNG NGHIỆP

 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN

 SÁNG CHẾ

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

 SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

 BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 CHÍNH PHỦ

Phiên bản Mobile Phiên bản Mobile Website

Facebook.com/techmartdanang.vn

Google+ Google+ ttttkhcndanang

Twitter Twitter @ttttkhcndanang

Twitter Kênh Youtube ttttkhcndanang


© TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: 51A Lý Tự Trọng - Thành phố Đà Nẵng
Điện Thoại & Fax (+84) 236 3.898.133
Email: ttttkhcndanang@gmail.com; ttttkhcn@danang.gov.vn