Sáng chế
 
 QUY TRÌNH VÀ NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI BAO GỒM VIỆC KIỂM SOÁT NỒNG ĐỘ OXY HÒA TAN

Tên nhà sáng chế: Garry Hoyland, Cambridge  - Nước: Vương Quốc Anh

Sáng chế liên quan đến quy trình xử lý nước thải, và các bộ phận ở đó nước thải có thể được xử lý.

Tác động của loài người dựa trên các kết quả môi trường của chúng ta trong việc tạo ra số lượng lớn nước bị ô nhiễm, mà chúng ta gọi là nước thải. Nước thải có thể chất thải lỏng được thải ra từ trong gia đình và các đất đai thương mại, từ công nghiệp và nông nghiệp, hoặc các hỗn hợp của chúng. Nước thải đôi khi bao gồm các thể vẩn của các chất rắn. Chất thải nước cống là một dạng của nước thải bao gồm phân và/ hoặc nước tiểu.

Sáng kiến hiện hành liên quan đến quá trình xử lý nước thải, bao gồm các bước:

a. một bước tiếp xúc, trong đó nước thải được tiếp xúc với vi khuẩn được tích trữ trên một bề mặt hỗ trợ và nồng độ oxy hòa tan trong nước thải được duy trì ở mức 2,0 mg/l hoặc ít hơn;

b. một bước thông khí, trong đó khí được truyền đi ngang qua nước thải mà đã được trải qua bước tiếp xúc và nồng độ oxy hòa tan trong nước thải bị giảm bớt khi nước thải đi ngang qua bước thông khí này;

c. một bước lắng cặn, trong đó nước thải mà đã được truyền qua bước thông khí về căn bản tách rời thành nước đã được xử lý và bùn đặc; và

d. một bước tái chế bùn đặc, trong đó ít nhất một phần của bùn từ bước lắng cặn được truyền đi ngang qua đến bước tiếp xúc này.

Các nhà sáng chế dự định rằng chúng ta có thể kiểm soát nồng độ oxy hòa tan trong bể tiếp xúc như thế nhờ một phần sinh khối (dân số) của vi khuẩn được giữ lại trên bề mặt hỗ trợ hoạt động trong điều kiện hiếu khí, và một phần sinh khối (dân số) vi khuẩn hoạt động trong điều kiện yếm khí. Vì vậy một tình huống được đề xuất để tối ưu hóa sự phân hủy của chất gây ô nhiễm nước thải trong bước tiếp xúc, như là các quá trình hiếu khí của vi khuẩn có thể phân hủy các chất gây ô nhiễm nhất định, trong khi các chất ô nhiễm khác và các sản phẩm của các quá trình hiếu khí có thể được phân hủy bởi các quá trình vi khuẩn kỵ khí.

Hơn nữa, không muốn bị ràng buộc bởi lý thuyết, các nhà phát minh đề xuất rằng chúng ta có thể tác động đến thành phần của quần thể vi khuẩn trong nước thải chảy tự do đi qua bước tiếp xúc và bước sục khí bằng cách cung cấp vào trong nước thải đi qua hết cả hai bước với nồng độ oxy hòa tan (DO) ở mức thấp tương đối, so với nồng độ DO tìm thấy trong các hệ thống xử lý nước thải chung.

Nước thải là nước được cung cấp đến quá trình để xử lý. Nước đi qua các bước khác nhau của quá trình này cũng được gọi là nước thải trong mô tả sáng chế này và có thể chứa vi khuẩn không kể những cái khác được sử dụng trong quá trình này (nước thải như vậy thường được nhắc đến trong kỹ thuật này giống như dung dịch hỗn hợp).

Các vi sinh vật trong bước tiếp xúc với chủ yếu được giữ lại trên bề mặt hỗ trợ mặc dù quá trình này có thể sử dụng cả hai loại vi khuẩn được giữ lại trên bề mặt hỗ trợ và dòng chảy tự do của vi khuẩn trong nước thải. Thời gian giữ lại của nước thải trong bước tiếp xúc (được xác định là khối lượng nước thải trong bước tiếp xúc được phân chia bởi tốc độ dòng chảy trung bình của nước thải) tốt nhất là trong khoảng 5 phút đến 3 giờ tùy thuộc vào cường độ của nước thải.

Tất cả hoặc ít nhất là một phần chủ yếu của vi sinh vật trong bước sục khí này được chảy tự do bên trong dung dịch hỗn hợp này  (một hỗn hợp bùn hoạt hoá và nước chứa chất hữu cơ trải qua quá trình xử lý bùn hoạt hoá trong bể sục khí), nhưng dòng chảy tự do các vi sinh vật có thể được bổ sung bằng các vi sinh vật khác được gắn liền với các bề mặt hỗ trợ mà có thể được bố trí trước theo vị trí hoặc chảy tự do bên trong nước thải. Thời gian lưu giữ của nước thải được qui định bởi bước sục khí (được định nghĩa như số lượng lớn  dung dịch hỗn hợp trong bước sục khí được phân chia theo tốc độ dòng chảy trung bình của nước thải) dưới các điều kiện mà trong đó nồng độ oxy hòa tan (DO) của dung dịch hỗn hợp này thích hợp với các cấp độ đã được mô tả, tốt nhất là trong khoảng từ 4 giờ đến 1, 2, 3, 4 hoặc nhiều ngày, tùy thuộc vào cường độ của nước thải.

Tỷ lệ thời gian lưu giữ của nước thải trong bước sục khí, dưới nồng độ DO được điều khiển cũng được mô tả, đối với thời gian lưu giữ của nước thải trong bước tiếp xúc tốt nhất là  trong khoảng 15-90.

Ở một biểu hiện, nồng độ oxy hòa tan trong bước tiếp xúc được duy trì ở mức 2 mg/l hoặc ít hơn, 1,5 mg/l hoặc ít hơn, hoặc 1mg/l  hoặc ít hơn, và một cách tùy ý không ít hơn 0,2 mg/l. Như vậy, nước thải trong bước tiếp xúc tốt nhất là hiếu khí và không phải kỵ khí.

Nồng độ DO của nước thải đối với sự khởi đầu của sự đi ngang của nó xuyên qua bước sục khí là tương đối thấp và thấp hơn hoặc thậm chí nồng độ bằng không đối với đoạn cuối của sự đi ngang qua của chất lỏng này xuyên qua bước này. Nét đặc trưng DO ở trong bước tiếp xúc và xuyên qua bước sục khí này được lựa chọn để tăng trưởng và phát triển nội bào tử hình thành vi khuẩn. Áp lực sinh học đối với đoạn cuối bước sục khí (đạt được nhờ giảm DO và/hoặc nồng độ các chất dinh dưỡng dành cho các vi khuẩn bên trong nước thải đó là thấp hơn qui định dành cho chức năng sinh lý bình thường của vi khuẩn) kích thích việc hình thành bào tử của vi khuẩn được nói rõ và các điều kiện phát triển sinh học ở bước tiếp xúc kích thích sự hoạt hóa và nảy mầm của nội bào tử thành các tế bào sinh dưỡng mà có thể phát triển theo cấp số nhân.

Sự phát triển của nội bào tử hình thành vi khuẩn và sự sản sinh và sự nảy mầm của các nội bào tử đã được đề xuất kích thích việc duy trì ở các mức độ tốt của vi khuẩn chức năng, cả hai chảy tự do trong dung dịch hỗn hợp này suốt từ đầu đến cuối các bước của phương pháp này và được giữ lại trên bề mặt hỗ trợ của bước tiếp xúc này.

Theo đó, nó được ưa tiên nồng độ DO của nước thải dành cho sự khởi đầu của sự đi ngang của nước thải xuyên qua bước sục khí và dành cho đoạn cuối của sự đi qua của nó xuyên qua bước sục khí được điều khiển ở một mức độ mà kích thích sự sinh trưởng và phát triển của nội bào tử - hình thành vi khuẩn và vi khuẩn này trải qua vòng đời của chúng.

Một khi chúng ta thiết lập cách để kiểm soát nguồn oxy cung cấp cho nước thải, chúng ta có thể sau đó kiểm soát nồng độ oxy hòa tan trong nước thải. Về cơ bản việc này bao gồm một bước kiểm tra giám sát, theo đó nồng độ oxy hòa tan trong nước thải được đo và so sánh với nồng độ mong muốn, và một bước hoàn ngược theo đó cách thức cung cấp oxy cho nước thải được kiểm soát để làm tăng hoặc giảm sự cung cấp oxy để đạt đến nồng độ oxy hòa tan như mong muốn đã được thảo luận ở trên. Một cách tùy ý, ngoài việc theo dõi giám sát nồng độ oxy hòa tan, khả năng quá trình oxy hóa khử có thể cũng được đo lường nhằm kiểm soát việc cung cấp oxy.

Mỹ Dung dịch

(Nguồn: Kho Patent tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng)

 
 
  
  
* Mời bạn góp ý nội dung bài viết. Chân thành cám ơn!
HỆ THỐNG LÀM SẠCH VÙNG ĐẤT HOẶC LƯU VỰC
HỆ THỐNG CÁCH ÂM
HỆ THỐNG CÁCH ÂM GHÉP CHO CÁC MẶT BIÊN CỦA CĂN PHÒNG
ĐỆM CÁCH ÂM VÀ VIỆC SỬ DỤNG
  
Liên Kết
Lượt truy cập


TRANG CHỦ

THÔNG BÁO

TIN TỨC

LIÊN HỆ

CSDL CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ

 NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

     THIẾT BỊ NÔNG THÔN

     CÔNG NGHỆ NÔNG THÔN

     PHIM KHOA HỌC - KỸ THUẬT

 NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ

 CÔNG NGHỆ DOANH NGHIỆP

 TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHUYÊN ĐỀ

 CHUYÊN ĐỀ NÔNG NGHIỆP

 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN

 SÁNG CHẾ

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

 SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

 BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 CHÍNH PHỦ

Phiên bản Mobile Phiên bản Mobile Website

Facebook.com/techmartdanang.vn

Google+ Google+ ttttkhcndanang

Twitter Twitter @ttttkhcndanang

Twitter Kênh Youtube ttttkhcndanang


© TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: 51A Lý Tự Trọng - Thành phố Đà Nẵng
Điện Thoại & Fax (+84) 236 3.898.133
Email: ttttkhcndanang@gmail.com; ttttkhcn@danang.gov.vn