Chuyên đề Khoa học và Công nghệ
 
 Kỹ thuật nuôi cá rô đồng

Chuyên đề 6 năm 2011: Kỹ thuật nuôi cá rô đồng

Lê Hữu Thuận - Trưởng phòng Tư liệu thực hiện

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ RÔ ĐỒNG

I. PHÂN BỐ

- Rô đồng là loài cá nước ngọt, sống ở vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam cá rô đồng rất phổ biến ở miền Nam và miền Bắc.

Chuyende_2011_6.1

- Ngoài tự nhiên cá sống trong sông, ao, hồ, mương vườn, ruộng, ngoài ra cá có thể sống ở các cửa sông lớn, miền núi ít gặp.

- Trong điều kiện nhân tạo, cá rô sống được trong bể xi măng, ao mương có diện tích nhỏ. Ngoài ra nếu cá ở nơi mát và bề mặt cơ thể được giử ẩm, cá có thể sống được ngoài không khí trong nhiều giờ nhờ có cơ quan hô hấp phụ trên mang sử dụng khí trời, đây là ưu thế trong việc vận chuyển và nuôi với mật độ cao trong ao.

II. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

1) Phân loại:

Theo Mai Đình Yên và ctv (1992), cá rô đồng thuộc:

Lớp cá xương Osteichthyes;

Bộ cá vượt Perciformes;

Bộ phụ Anabantoidei;

Họ Anabantidae;

Giống Anabas;

Loài Anabas testudineus (Boch, 1792).

2) Đặc điểm hình thái:

- Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá rô đồng có thân hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc. Đầu lớn, mõm ngắn. Miệng hơi trên, rộng vừa, rạch miệng xiên kéo dài đến đường thẳng đứng kẻ qua giữa mắt. Răng nhỏ nhọn. Mỗi bên đầu có hai lỗ mũi, lỗ phía trước mở ra bằng một ống ngắn. Mắt to, tròn nằm lệch về nửa trên của đầu và gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang.

- Phần trán giữa mắt cong lồi tương đương 1,5 đường kính mắt. Cạnh dưới xương lệ, xương giữa nắp mang, xương dưới nắp mang và cạnh sau xương nắp mang có nhiều gai nhỏ nhọn, tạo thành răng cưa. Lỗ mang rộng, màng mang hai bên dính nhau và có phủ vảy. Trên đầu có nhiều lỗ cảm giác.

- Vảy lược phủ toàn thân, đầu và một gốc vi lưng, vi hậu môn và vi đuôi, vảy phủ lên các vi nhỏ hơn vảy ở thân và đầu. Gốc vi bụng có một vảy nách hình mũi mác.

- Đường bên nằm ngang và chia làm hai đoạn: Đoạn trên từ bờ trên lỗ mang đến ngang các vi lưng cuối cùng. Đoạn dưới từ ngang các gai vi lưng cuối cùng đến điểm giữa gốc vi đuôi, hai đoạn này cách nhau một hang vảy.

- Gốc vi lưng lưng rất dài, phần gai gần bằng bốn lần phần tia mềm. Khởi điểm vi lưng ở trên vảy đường bên thứ ba và kéo dài đến gốc vi đuôi. Khởi điểm vi hậu môn ngang vảy đường bên thứ 14 – 15, gần điểm giữ gốc vi đuôi hơn gần chót mõm và chạy dài dến gốc vi đuôi. Vi đuôi tròn, không chẻ đôi. Gai vi lưng, vi hậu môn, vi bụng cứng nhọn.

- Mặt lưng của đầu và thân có màu xám đen hoặc xám xanh và lựot dần xuống bụng, ở một số cá thể ửng lên màu vàng nhạt. Cạnh sau sương nắp mang có một màng da nhỏ màuv đen. Có một đốm đen đậm giữa gốc vi đuôi ngoài ra còn có một số đặc điểm đen mừo nằm rải rác trên thân.

3) Dinh dưỡng:

- Cá bắt đầu ăn ngoài từ ngày thứ ba, thức ăn ưa thích của cá là những giống loài động vật phù du cỡ nhỏ trong ao như bọn giáp xác râu ngành, thậm chì chúng cũng ăn cả ấu trùng tôm cá.

- Khi trưởng thành cá có thể sử dụng nhiều loại thức ăn, nhưng thức ăn ưa thích của cá là động vật đáy như giun ít tơ, ấu trùng côn trùng, mầm non thuỷ thực vật. Ngoài ra cá rô cũng có khả năng sử dụng thức ăn chế biến và phụ phẩm nông nghịệp rất tốt.

- Cá rô đồng là loài cá dữ, ăn tạp, nhưng thiên về động vật. Tính dữ được thể hiện khi trong đàn cá có cá chết những con sống sẽ tấn công ăn thịt con chết hoặc trong giai đoạn cá giống, khi thiếu thức ăn những con cá lớn sẽ ăn những cá nhỏ, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống của cá.

4) Sinh trưởng:

- Cá rô đồng có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm, sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60 - 100g/con.

- Trong điều kiện nhân tạo, cá rô đồng sống được trong bể xi măng, ao mương có diện tích nhỏ, ngoài ra nếu cá ở nơi mát và bề mặt cơ thể được giữ ẩm, cá có thể sống được ngoài không khí trong nhiều giờ nhờ có cơ quan hô hấp phụ trên mang sử dụng khí trời, đây là ưu thế trong việc vận chuyển và nuôi với mật độ cao trong ao.

5) Sinh sản:

- Ngoài tự nhiên cá có tính sinh sản vào mùa mưa. Đầu mùa mưa cá di chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những đám mưa lớn đầu mùa như: ruộng, ao, đìa v.v... nơi có chiều sâu cột nước 30 - 40 cm để sinh sản. Cá rô đồng không có tập tính giữ con.

- Ở chiều dài 10 – 13 cm, cá rô đồng tham gia sinh sản lần thứ nhất, sức sinh sản cá cao đạt 30 - 40 vạn trứng/kg cá cái, trứng cá thuộc loại trứng nổi và có màu vàng. Cá đẻ 3 - 4 lần/năm.

- Theo Dương Nhựt Long (2003) trứng cá rô thành thục thường có màu trắng ngà hoặc màu trắng ngà hơi vàng, đường kính trứng sau khi trương nước dao động từ 1,1 - 1,2 mm và trứng cá rô thuộc loại trứng nổi. Sức sinh sản của cá cao đạt khoảng 300.000 đến 700.000 trứng/kg cá cái.

III. KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ ĐỒNG

Chuyende_2011_6.2

Vào đầu mùa mưa hàng năm (tháng 5-6 âm lịch) người dân bắt được giống cá rô đồng ở trên ruộng, mương. Nhưng do đánh bắt cá bị xây xát, mất nhớt nên tỉ lệ hao hụt lớn. Cá còn sống mang tính hoang dã của cha mẹ, nên khi có dòng nước chảy vào, cá thường đi theo dòng nước hoặc gặp nơi sống không thích hợp cá cũng đi. Nguồn giống cá rô đồng tự nhiên không đều, thiếu chủ động cung cấp giống theo yêu cầu nuôi. Bên cạnh đó do bị khai thác quá mức, không có qui hoạch, ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thật vật nên cá ngoài tự nhiên ngày càng khan hiếm. Vì vậy việc sản xuất giống cá rô đồng nhân tạo được xem là điều kiện quan trọng cho việc phát triển nghề nuôi cá rô đồng thương phẩm.

A. NUÔI VỖ THÀNH THỤC CÁ BỐ MẸ

1) CHỌN CÁ BỐ MẸ:

- Trọng lượng cá rô đồng bố mẹ dao động từ 50 - 100 g/con, có cơ thể hoàn chỉnh, không bị dị tật, dị hình. Cá có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc từ nguồn cá nuôi trong ao.

- Phân biệt cá đực và cá cái:

+ Cá đực thường nhỏ hơn cá cái và có thân dài.

+ Cá cái có bụng to, mềm đều và có tỷ lệ chiều dài thân trên chiều cao lớn hơn cá đực.

2) KỸ THUẬT NUÔI VỖ:

a) Nuôi vỗ trong ao:

- Ao nuôi vỗ cần đảm bảo một số tiêu chuẩn kỹ thuật sau:

+ Ao nuôi cần có bờ cao và có rào chắn để phòng trường hợp cá leo lên bờ khi có trời mưa lớn.

+ Mực nước trong ao nuôi cá rô trung bình 0,8 – 1,2m.

+ Đáy ao nên có một lớp bùn dày 10 - 15cm.

+ Nguồn nước cung cấp cho ao phải đảm bảo không bị nhiễm phèn và ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật.

- Quy trình cải tạo ao:

+ Bơm cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ, làm sạch cỏ xung quanh bờ ao.

+ Vét bùn đáy ao, chỉ chừa lại một lớp bùn mỏng khoảng 5cm. Bón vôi bột với liều 7 – 10 kg/100m2.

+ Lọc nước vào ao với mức nước 0,8 - 1m trước khi thả cá 4 ngày.

- Mật độ thả trung bình 1kg/m2.

- Tỷ lệ đực:cái là 1:1.

b) Nuôi vỗ trong lồng lưới plastic:

Ngoài ra cá rô đồng bố mẹ cũng có thể được nuôi trong lồng lưới plastic có kích thước 2 x 2,5 x 2 m, mật độ thả là 5 kg/m3.

3) CHĂM SÓC CÁ BỐ MẸ:

a) Thức ăn:

+ Cá rô đồng thành thục khá dễ trong điều kiện ao nuôi và có thể sử dụng nhiều loại thức ăn để nuôi vỗ như thức ăn viên, thức ăn tự chế: cám nhuyễn (60%) + bột cá (cá tươi hoặc các phế phẩm ngành chế biến thủy sản), xay nhỏ (40%) + chất kết dính. Đối với thức ăn công nghiệp hàm lượng protein trong thức ăn tối thiểu 30%.

+ Lượng thức ăn chiếm khoảng 5 - 7% trọng lượng cá. Thời gian cho cá ăn: nên cho cá ăn hai lần trong ngày vào buổi sáng (6 - 7giờ) và buổi chiều (17 – 18 giờ). Tại vị trí cho cá ăn nên đặt sàng để chứa thức ăn và cũng để dễ kiểm tra lượng thức ăn hằng ngày.

b) Quản lý chất lượng nước:

+ Do cá rô có cơ quan hô hấp phụ nên cá không có hiện tượng nổi đầu khi hàm lượng oxy hoà tan trong ao thấp. Tuy vậy nếu ao nuôi vỗ đảm bảo đầy đủ dưỡng khí, chất nước tốt thì quá trình thành thục của cá sẽ thuận lợi hơn và sức sinh sản của cá sẽ cao hơn. Định kỳ 15 ngày kích thích bằng thay nước một lần, mỗi lần 1/3 ao.

+ Định kỳ 20 ngày kiểm tra độ thành thục của cá để chọn thời điểm kích thích sinh sản.

B. KÍCH THÍCH SINH SẢN

1. Chọn cá kích thích sinh sản:

Chuyende_2011_6.3

Sau khi nuôi vỗ khoảng 45 - 60 ngày có thể kiểm tra cá để đánh giá mức độ thành thục của cá. Khi chọn cá cho đẻ có thể dựa theo các tiêu chuẩn sau:

a) Chọn cá cái:

- Chọn những cá bố mẹ khỏe mạnh, không xây sát. Khi dùng tay vuốt nhẹ phần bụng có cảm giác mềm đều. Cá rô thành thục và ở trạng thái sẵn sàng đẻ bụng cá to, nổi rõ gờ buồng trứng hai bên lườn bụng.

- Dùng tay ấn nhẹ hai bên buồng trứng thấy mềm. Lỗ sinh dục của cá nở rộng và thường có màu hồng. Trứng cá có màu trắng ngà hoặc trắng ngà ngã vàng.

Chuyende_2011_6.4

b) Chọn cá đực:

- Cá rô đực thường có thân dài và thon hơn cá cái. Màu sắc thường đậm và kích thước nhỏ hơn cá cái.

- Khi chọn cá đực có thể dùng hai ngón tay ấn nhẹ gần lỗ sinh dục thấy có chất dịch màu trắng chảy ra là được.

- Do cá rô đực thành thục trong ao dễ hơn cá cái nên không cần phải kiểm tra toàn bộ cá đực mà chỉ cần kiểm tra một số đại diện.

- Tỷ lệ đực/cái cho đẻ trung bình 1/1 hoặc 3/2. Sau khi lựa xong, đưa cá vào bể hoặc thau nước sạch cho cá khỏe 2 – 3 giờ trước khi tiêm kích dục tố cho cá đẻ.

2. Cho cá đẻ:

a) Chuẩn bị dụng cụ sinh sản:

- Dụng cụ cho cá sinh sản gồm có:

+ Bể xi măng, bể composite hoặc thau nhựa có đường kính 70-80cm, cao 30-40cm vừa dùng cho cá đẻ và ấp trứng.

+ Vợt vớt trứng.

+ Ống nhựa trong nhỏ để cấp nước khi cá nở đồng thời để rút những trứng bị ung, vỏ trứng và cặn bã.

+ Ống tiêm nhỏ 3-5ml.

- Rửa sạch dụng cụ, lấy nước sạch vào bể hoặc thau với chiều sâu 20- 30 cm.

b) Tiêm kích dục tố:

Các loại kích dục tố và nồng độ sử dụng

- Hiện nay có hai loại kích dục tố được dùng để kích thích cá rô đồng là: HCG (Human Chorionic Gonadotropin), LH- RHa (Lutenizing Hormon Releasing Hormon Analog). Tùy mỗi loại mà sẽ dùng với các mức liều lượng khác nhau.

Chuyende_2011_6.5

- Kích thích sinh sản bằng hormone HCG với liều lượng 3000 UI/kg.

+ Kích thích cá sinh sản bằng hormone HCG với liều lượng 3000 UI/kg ở 25oC là tốt nhất với tỷ lệ cá sinh sản 100 %, sức sinh sản là 658.864 trứng/kg, thời gian hiệu ứng 7:13 giờ, tỷ lệ thụ tinh 97,2% và tỷ lê nở 98,8%.

+ Khi sử dụng HCG với liều 3.000 - 4.000 UI/kg ở nhiệt độ 28,1oC cá đẻ 100%, thời gian hiệu ứng 8,30 giờ, tỷ lệ thụ tinh 98% và tỷ lệ nở 100%.

- Kích thích sinh sản bằng hormone LH-RHa với liều sử dụng 70mg/kg. Ngoài ra có thể dùng hormone LH-RHa kết hợp với Domperidon (Motilium): 1 lọ LHRHa + 2 viên Domperidon (Motilium) cho 2 – 3 kg cá cái.

- Các nồng độ đề cập trên sử dụng cho cá cái, cá đực sử dụng liều bằng 1/3 liều cho cá cái.

Cách tiêm:

Chuyende_2011_6.6

- Để cá nằm ngửa trong lòng bàn tay và tiêm ở dưới gốc vi ngực. Mũi kim tiêm hướng về phía đầu cá và tiêm sâu chừng 0,5-1cm (tùy theo cá lớn hay nhỏ mà điều chỉnh độ sâu kim tiêm cho phù hợp).

- Tiêm xong cho cá vào bể đẻ hoặc thau có chứa nước sạch. Tuỳ theo diện tích nơi cho đẻ mà thả số lượng cá khác nhau. Nếu cho đẻ trong bể xi măng thì cứ 1m2 thả 10 - 15 cặp cá rô, nếu cho đẻ trong thau (đường kính 40 - 45 cm) thả 2-3 cặp cá là vừa.

- Mực nước trong các dụng cụ cho đẻ trung bình 20-30cm. Sau khi thả cá vào những dụng cụ cho đẻ cần phải dùng lưới phủ lên trên tránh khi cá đẻ nhảy ra ngoài. Sau khi tiêm thuốc khoảng 7 -10 giờ cá sẽ đẻ trứng. Chờ cá đẻ xong, vớt trứng sang bể ấp ở nơi khác.

c) Ấp trứng:

Cá sau khi được tiêm thuốc 2 - 3 giờ cá bắt đầu có phản ứng với thuốc (chúng sẽ rượt đuổi nhau). Khi cá để xong (sau 7 – 10 giờ) thì tiến hành thu trứng cho vào thau ấp.

Dụng cụ ấp trứng:

Chuyende_2011_6.7

- Có thể dùng bồn composite, bể xi-măng hoặc thau để ấp trứng cá rô đồng. Mực nước ấp trứng trung bình 40 - 60cm. Do trứng cá rô đồng nổi trên mặt nước, do đó diện tích ấp trứng chiếm 2/3 diện tích mặt nước.

- Dụng cụ ấp trứng phải vệ sinh sạch, đặt nơi thoáng mát để dễ chăm sóc và quản lý. Cá sinh sản xong, tiến hành dùng vợt bằng lưới mùng vớt trứng chuyển qua thau hoặc bể khác có nước sạch để ấp.

- Nếu dùng bể, thau vừa cho cá sinh sản xong để ấp, phải chuyển trứng và cá bố mẹ sang nơi khác, vệ sinh sạch cho nước mới vào và cho trứng vào ấp. Trường hợp không có phương tiện dự phòng để chuyển trứng đi, sau khi chuyển cá bố mẹ về ao nuôi vỗ, có thể thay 2/3 thể tích nước cũ và tiến hành ấp trứng. Hình thức này trứng bị hao hụt do việc di chuyển cá bố mẹ và điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo.

 Nước sử dụng:

- Nguồn nước ấp trứng sạch, không bị ô nhiễm, và phải được lọc qua vải mịn để loại trừ sinh vật hại trứng.

- Sử dụng nước sông hoặc nước máy đều phải để lắng sau 24 giờ vì nếu sử dụng trực tiếp nước sông phù sa sẽ ảnh hưởng đến hô hấp của phôi, nước máy có chất sát trùng làm chết phôi.

 Mật độ trứng ấp:

- 3.000 trứng/lít nước trong điều kiện nước tĩnh.

- 6.000 trứng/ lít nước có sục khí.

Chăm sóc trứng:

- Trong quá trình ấp trứng cần bảo đảm oxy cho trứng, lượng oxy hoà tan trung bình 3 - 4mg/l. Sau khi cá nở 2 - 3 ngày, chuyển xuống ao đất để ương thành cá giống.

- Chú ý điều chỉnh sục khí trong thời gia ấp để trứng không gom lại 1 chổ.

- Nếu có điều kiện: nguồn nước sạch, có bể lắng xử lý nước nên ấp trứng theo hệ thống thay nước liên tục. Thường xuyên theo dõi làm vệ sinh lưới lọc nhất khi trứng nở.

Rô đồng là loài cá dữ, ăn tạp, nhưng nghiêng về động vật...
 
 
  
  
* Mời bạn góp ý nội dung bài viết. Chân thành cám ơn!
Thỏ Mỹ, bồ câu Pháp trong trang trại Việt
Quy trình Kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp
Kỹ thuật nuôi bồ câu Pháp
Giúp lan nhanh mọc rễ
Kỹ thuật mới trồng lan Ngọc Điểm (RHYNCHOSTYLIS Gigantea)
Kỹ thuật trồng lan Đai Châu (Ngọc Điểm)
Kỹ thuật trồng và chăm sóc Lan Hài
Kỹ thuật thuần dưỡng và chăm sóc lan rừng
Nhân giống vô tính thành công lan hồ điệp
Lan hồ điệp (Phalaenopsis)
  
Liên Kết
Lượt truy cập


TRANG CHỦ

THÔNG BÁO

TIN TỨC

LIÊN HỆ

CSDL CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ

 NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

     THIẾT BỊ NÔNG THÔN

     CÔNG NGHỆ NÔNG THÔN

     PHIM KHOA HỌC - KỸ THUẬT

 NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ

 CÔNG NGHỆ DOANH NGHIỆP

 TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHUYÊN ĐỀ

 CHUYÊN ĐỀ NÔNG NGHIỆP

 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN

 SÁNG CHẾ

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

 SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

 BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 CHÍNH PHỦ

Phiên bản Mobile Phiên bản Mobile Website

Facebook.com/techmartdanang.vn

Google+ Google+ ttttkhcndanang

Twitter Twitter @ttttkhcndanang

Twitter Kênh Youtube ttttkhcndanang


© TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: 51A Lý Tự Trọng - Thành phố Đà Nẵng
Điện Thoại & Fax (+84) 236 3.898.133
Email: ttttkhcndanang@gmail.com; ttttkhcn@danang.gov.vn